Đặc điểm tình hình tự nhiên xã Bát Xát
Lịch sử hình thành
Xã Bát Xát được thành lập và đi vào hoạt động từ ngày 01/07/2025 theo Nghị quyết số 1673/NQ-UBTVQH15 ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Lào Cai năm 2025, trên cơ sở sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của 5 đơn vị hành chính gồm: Thị trấn Bát Xát và các xã Bản Vược, Bản Qua, Phìn Ngan, Quang Kim. Trung tâm hành chính của xã Bát Xát được đặt tại thị trấn Bát Xát (cũ). Quá trình này nằm trong chủ trương tái cơ cấu đơn vị hành chính của tỉnh Lào Cai (sáp nhập từ tỉnh Yên Bái và Lào Cai cũ), nhằm tinh gọn bộ máy quản lý, tối ưu hóa nguồn lực và thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Việc sáp nhập không chỉ thay đổi về địa giới hành chính mà còn mở ra những cơ hội mới cho sự phát triển bền vững của địa phương.

Địa lý tự nhiên
Xã Bát Xát có diện tích 189,54 km2; tiếp giáp với các xã: Bản Xèo, Trịnh Tường, Cốc San, Ngũ Chỉ Sơn, phường Lào Cai và huyện Hà Khẩu (Trung Quốc). Xã Bát Xát có đường biên giới dài 18.616m, tiếp giáp huyện Hà Khẩu, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc và quản lý ba mốc quốc giới: 97(2), 98(2), 99(2).
Địa hình xã Bát Xát được chia làm hai phần: Vùng thấp với diện tích 119,43 km2, chiếm 63% diện tích tự nhiên toàn xã, chủ yếu là đồi núi thấp, độ cao trung bình từ 400m đến 500m, địa hình vùng này được kiến tạo bởi các dải đồi thấp dạng lượn sóng và phần thoải tương đối bằng chạy dọc sông Hồng. Phần lớn đất đai vùng thấp nằm trên vỉa quặng A pa tít nên đất đai màu mỡ thuận lợi cho việc phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp. Vùng cao với diện tích 70,11 km2, chiếm 37% diện tích, địa hình có độ dốc lớn, chia cắt mạnh gây ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp và đầu tư cơ sở hạ tầng, song lại có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và củng cố an ninh quốc phòng, phát triển du lịch và trồng cây dược liệu.
Xã Bát Xát nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm mưa nhiều. Do ảnh hưởng của địa hình nên được thành hai khu vực khi hậu khác nhau: Vùng thấp thì mang tính chất khí hậu nhiệt đới. Vùng cao: Do ảnh hưởng của địa hình núi cao, độ chia cắt lớn nên vùng núi cao mang tính chất của khí hậu cận nhiệt đới.
Tài nguyên khoáng sản: xã Bát Xát có tài nguyên khoáng sản đang được đầu tư khai thác như mỏ đồng, mỏ a pa tít. Đặc biệt mỏ đồng là nguồn thu hút lao động lớn của xã và đóng góp phần lớn vào số thu ngân sách trên địa bàn của xã.
Địa lý hành chính – dân cư
Xã Bát Xát có 55 thôn, trong đó có 10 thôn biên giới. Dân số 26.655 người; số hộ 6.317 hộ. Dân số phân bổ chủ yếu ở vùng thấp, dọc sông Hồng. Trên địa bàn xã có 14 dân tộc cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm 37,26%, dân tộc Giáy chiếm 32,27%, dân tộc Dao chiếm 25,75%, còn lại 4,72% là dân tộc khác. Số hộ nghèo còn 8,84%; Hộ cận nghèo còn 9,35%. Số tôn giáo đang hoạt động trên địa bàn gồm công giáo và đạo Phật.
Số lao động đang làm việc 14.509 người, trong đó: số lao động làm nông nghiệp 9.700 người, số lao động làm công nghiệp, xây dựng 1.283 người, số lao động làm dịch vụ 3.526 người. Số lao động đi làm ăn xa, xuất khẩu lao động 1.754 người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 73,68%.
Tình hình phát triển kinh tế – xã hội
Trong những năm gần đây, xã Bát Xát đã có những bước phát triển tích cực trên nhiều lĩnh vực. Đời sống người dân ngày càng được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người tăng qua từng năm; thu nhập bình quân đầu người năm 2025 đạt 61,54 triệu đồng, tăng 14,25 triệu đồng so với năm 2020. Cơ sở hạ tầng như đường giao thông, y tế, giáo dục, văn hóa, hệ thống điện, nước sinh hoạt được đầu tư nâng cấp đồng bộ.
Giao thông: Chiều dài đường giao thông chính trên địa bàn xã 196,2 km, tỷ lệ đường được cứng hoá đảm bảo giao thông đi lại thuận tiện đạt 89%. Các tuyến đường chính trên địa bàn xã là : tuyến tỉnh lộ 156, tỉnh lộ 156B, trục đường Quang Kim – Phìn Ngan.
Hạ tầng điện – viễn thông: Tỷ lệ thôn có điện lưới Quốc gia đạt 100%; Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng điện lưới Quốc gia đạt 99,5%. Các doanh nghiệp viễn thông lớn như Viettel, VNPT/VinaPhone, Mobifone đã đầu tư hệ thống trạm BTS với 41 trạm trên địa bàn xã, bảo đảm tín hiệu ổn định, phục vụ tốt nhu cầu liên lạc, truy cập Internet, học tập trực tuyến và phát triển kinh tế số của người dân.
Thương mại – dịch vụ: Xã hiện có 03 chợ, gồm; Chợ Bát Xát, chợ Bản Vược, chợ Quang Kim; 03 ngân hàng, gồm: Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Bát Xát, Phòng giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội Bát Xát, Ngân hàng Lộc Phát LP Bank – Phòng giao dịch Bát Xát; 01 bưu điện; có 169 doanh nghiệp, 28 hợp tác xã và 1.053 hộ kinh doanh với các loại hình kinh doanh thương mại, dịch đa dạng.
Sản xuất nông, lâm nghiệp: Triển khai có hiệu quả Nghị quyết 10-NQ/TU của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về chiến lược phát triển nông nghiệp hàng hóa, các mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp cơ bản được triển khai hiệu quả; những cây trồng, vật nuôi chủ lực được tập trung ưu tiên phát triển như: Cây lúa, Cây chuối, Cây dược liệu, Cây quế, cây dứa, đẩy mạnh chăn nuôi lợn, nuôi ngựa…giá trị sản phẩm thu hoạch trên 01ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản năm 2025 đạt 87,1 triệu đồng, tăng 6,6 triệu đồng so với năm 2020 . Chương trình mỗi xã một sản phẩm (OCOP) được triển khai toàn diện, đã có 19 sản phẩm được công nhận OCOP 3 sao: Rượu Pasipan, Lạc đỏ, Siro lê mật ong, Bạch trà san tuyết, Bánh nướng thập cẩm Hương Thơm, Bánh dẻo thập cẩm Hương Thơm, Dưa hấu Phìn Ngan, Miến cải Kale, Lục trà San Tuyết, Hồng Trà San Tuyết, thịt trâu sấy, thịt lợn sấy…
Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Thực hiện tốt cơ chế, chính sách thu hút đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi cho công nghiệp khai thác khoáng sản, thủy điện, sản xuất chế biến nông lâm sản, vật liệu xây dựng. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2025 đạt 7.806 tỷ đồng , tăng 3,5 lần so với năm 2020; các doanh nghiệp khoáng sản, chế biến vật liệu xây dựng, nông lâm sản đầu tư trên địa bàn như Nhà máy Luyện đồng Bản Qua, Nhà máy thuỷ điện Ngòi Phát, Leader Nam Tiến… hoạt động hiệu quả, góp phần quan trọng trong việc tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động địa phương. Giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp năm 2025 đạt 192 tỷ đồng , bằng 176% so với năm 2020. Duy trì và phát triển các hợp tác xã, các làng nghề sản xuất, cơ sở, sản xuất, kinh doanh tiểu thủ công nghiệp, mang lại giá trị và tạo thu nhập cho nhân dân.
Văn hoá – xã hội được quan tâm đầu tư, chính sách an sinh xã hội được đảm bảo: Trên địa bàn xã có 09/18 trường được công nhận và duy trì đạt chuẩn quốc gia, đạt 50%. Các lễ hội truyền thống mang tính đặc trưng của các dân tộc trên địa bàn xã hàng năm được tổ chức hiệu quả như: Lễ hội xuống đồng của dân tộc Giáy, Lễ hội Pút Tồng của dân tộc Dao… Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, đô thị văn minh”. Công tác ứng dụng khoa học – công nghệ và chuyển đổi số trên địa bàn xã được quan tâm triển khai đồng bộ, bước đầu tạo chuyển biến tích cực trong quản lý, điều hành và phục vụ nhân dân. Hệ thống y tế cơ sở tiếp tục được củng cố; các chương trình y tế quốc gia, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, phòng chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường, đảm bảo an toàn thực phẩm được chủ động thực hiện thường xuyên . Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95%, tăng 5% so với năm 2020. Các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, người nghèo, người yếu thế được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Số hộ nghèo còn 8,84%; Hộ cận nghèo còn 9,35%.
Tiềm năng và lợi thế
Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Trên địa bàn xã có Công ty Mỏ tuyển đồng Sin Quyền, Nhà máy luyện đồng Bản Qua đang hoạt động ổn định. Bát Xát cũng tận dụng nguồn tài nguyên khoáng sản dồi dào từ mỏ đồng Sin Quyền và các điểm quặng sắt tại Bản Vược để cung cấp nguyên liệu cho các nhà máy luyện kim và chế biến.
Khu công nghiệp (KCN) Bản Qua là dự án chiến lược của Bát Xát, được xây dựng để thu hút đầu tư vào các lĩnh vực chế biến nông sản, dược liệu, gỗ và lâm sản ngoài gỗ. Hình thành cụm công nghiệp Bát Xát. Các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, gia công cơ khí, chế biến lương thực, thực phẩm và chè được khuyến khích mở rộng quy mô, với sự hỗ trợ về công nghệ và xây dựng thương hiệu để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường. Chính sách chuyển đổi 100% cơ sở sản xuất trong khu dân cư vào KCN đảm bảo phát triển công nghiệp xanh, thân thiện với môi trường.
Phát triển kinh tế cửa khẩu, Thương mại, dịch vụ
Cửa khẩu phụ Bản Vược, với quy hoạch chi tiết mở rộng lên 343 ha, là một trong những trọng tâm phát triển của khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai. Nằm gần cầu qua sông Hồng, cửa khẩu này được định hướng trở thành trung tâm thương mại, dịch vụ và logistics, kết nối Việt Nam với thị trường Tây Nam Trung Quốc. Tỉnh Lào Cai đã đề xuất các chính sách ưu đãi đặc thù để thu hút đầu tư, đẩy nhanh kim ngạch xuất nhập khẩu và phát triển các dịch vụ cửa khẩu.
Khu vực Bản Vược cũng được quy hoạch để xây dựng khu phi thuế quan, khu dịch vụ kho bãi logistics và khu kiểm hóa tập trung, tạo điều kiện lý tưởng cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, vận tải và dịch vụ hậu cần. Với vị trí chiến lược và hạ tầng ngày càng hoàn thiện, cửa khẩu Bản Vược hứa hẹn trở thành động lực “cất cánh” cho kinh tế khu vực.
Dự án Cầu đường bộ qua sông Hồng tại Bản Vược (Việt Nam) – Bá Sái (Trung Quốc), khởi công ngày 31/03/2025, là công trình giao thông trọng điểm với tổng vốn đầu tư khoảng 1.500 tỷ đồng, trong đó phía Việt Nam đầu tư khoảng 282 tỷ đồng. Dự kiến hoàn thành vào tháng 09/2026, cây cầu này nằm cách cột mốc biên giới 97 khoảng 700m về phía hạ lưu sông Hồng và được thiết kế dạng cầu dây văng tháp thấp với khổ cầu 35,3m. Đây là cây cầu thứ tư trong khu vực kinh tế cửa khẩu Lào Cai, hứa hẹn giảm tải cho cửa khẩu quốc tế Lào Cai và tăng cường giao thương, hợp tác kinh tế giữa tỉnh Lào Cai và tỉnh Vân Nam.
Cầu sẽ kết nối cao tốc Nội Bài – Lào Cai với cao tốc Côn Minh – Hà Khẩu, tạo thành trục giao thông huyết mạch trong hành lang kinh tế Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng. Điều này không chỉ thúc đẩy lưu thông hàng hóa mà còn mở ra cơ hội phát triển thương mại, logistics và du lịch xuyên biên giới, mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho các nhà đầu tư.
Trong khu công nghiệp Bản Qua triển khai kế hoạch Xây dựng khu công nghiệp gia công, chế biến, đóng gói hàng xuất khẩu trong khu hợp tác qua biên giới.
Phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp
Xã Bát Xát sở hữu 15.200 ha đất nông nghiệp, chiếm 80,2% diện tích đất toàn xã; đất phi nông nghiệp 1.948 ha, chiếm 10,3% diện tích; đất chưa sử dụng 1.806 ha, chiếm 9,5% diện tích. Hiện tại người dân vẫn sống chủ yếu bằng sản xuất nông – lâm nghiệp, người dân Bát Xát có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất lúa đặc biệt là lúa giống, trồng rau, trồng rừng và nuôi các nước ngọt đặc sản.
Xã tập trung phát triển nông nghiệp hàng hóa theo Nghị quyết 10 –NQ/TU của Tỉnh ủy về sản xuất nông nghiệp hàng hoá, với các sản phẩm chủ lực như lúa giống, rau an toàn, trồng hoa, trồng chuối và cây ăn quả nhiệt đới. Ứng dụng công nghệ cao và tiêu chuẩn an toàn thực phẩm giúp nâng cao giá trị sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm OCOP. Chăn nuôi lợn, gia cầm và nuôi trồng thủy sản (cá đặc sản) được đẩy mạnh theo hướng hàng hóa, gắn với bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu.
Phát triển du lịch
Trên địa bàn xã có Quy hoạch khu vui chơi giải trí Bát Xát (308 ha) với trung tâm là sân Golf Sapa Grand. Được thiết kế theo tiêu chuẩn quốc tế, Sân Golf Sapa Grand không chỉ là điểm đến lý tưởng cho người chơi mà còn là nơi giao lưu của những người yêu thể thao và thiên nhiên. Phù hợp phát triển du lịch nghỉ dưỡng.
Khu vực vùng cao của xã Bát Xát với đặc điểm khí hậu cận nhiệt đới, còn hoang sơ, với diện tích rừng còn nhiều, đặc biệt là rừng tự nhiên, thảm thực vật phong phú nên tiềm năng phát triển du lịch là rất lớn.
Ngoài ra trên địa bàn xã với 14 dân tộc anh em sinh sống, có nhiều bản sắc văn hoá dân tộc đặc sắc, đặc biệt là của dân tộc Giáy và dân tộc Dao. Phù hợp với loại hình phát triển du lịch cộng đồng, văn hoá kết hợp với nông nghiệp.
Định hướng phát triển
(1) Tiếp tục rà soát, bổ sung và tổ chức lập các quy hoạch chung, quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết, bảo đảm đồng bộ với Quy hoạch chung Khu du kinh tế cửa khẩu và các quy hoạch khu, cụm công nghiệp, quy hoạch chuyên ngành có liên quan.
Tổ chức lập, điều chỉnh và phê duyệt quy hoạch chung xã Bát Xát, trong đó xác định vùng lõi phát triển đô thị là khu trung tâm. Triển khai lập mới, điều chỉnh quy hoạch chi tiết để phù hợp với định hướng phát triển mới.
Liên kết không gian các hoạt động kinh tế – xã hội qua hành lang kinh tế, dọc theo các đường tỉnh lộ (156, 156B), tạo mối liên hệ vùng giữa xã Bát Xát với phường Lào Cai, xã Cốc San; giữa khu kinh tế Kim Thành – Bản Vược với khu vực Tây Nam Trung Quốc; giữa tỉnh Lào Cai với thành phố Hà Nội, Hải Phòng theo tuyến cao tốc Nội Bài – Lào Cai. Bố trí các công trình, dự án, hạ tầng kỹ thuật, khu dân cư, đảm bảo kết nối các vùng liên xã thông suốt, phù hợp với định hướng quy hoạch chung của tỉnh và hướng phát triển trọng tâm của vùng liên xã.
(2) Tập trung phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, đẩy mạnh phát triển kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới hiện đại, bền vững, văn minh đáng sống.
Tiếp tục triển khai có hiệu quả sản xuất nông nghiệp hàng hóa theo chủ trương lãnh đạo của Tỉnh ủy, tập trung vào các sản phẩm là thế mạnh của địa phương như lúa giống, rau, hoa, chuối, cây ăn quả nhiệt đới… đẩy mạnh sản xuất ứng dụng công nghệ cao, sản xuất theo các tiêu chuẩn an toàn, vệ sinh thực phẩm; Xây dựng và nâng cao giá trị về thương hiệu sản phẩm, giá trị xuất khẩu cho các sản phẩm OCOP, sảm phẩm hàng hóa theo chuỗi giá trị gắn sản xuất với thị trường tiêu thụ. Phấn đấu tổng số duy trì và phát triển mới sản phẩm OCOP của xã Bát Xát là 25 sản phẩm.
Duy trì và mở rộng các vùng sản xuất hàng hoá tập trung: vùng trồng cây ăn quả nhiệt đới, trồng rau an toàn, trồng hoa hàng hoá. Tập trung phát triển chăn nuôi lợn, gia cầm theo hướng sản xuất hàng hoá. Tiếp tục phát triển nuôi các loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, cá đặc sản gắn với bảo vệ môi trường sinh thái, thích ứng với biến đổi khí hậu. Giá trị sản phẩm trên 01 ha đất trồng trọt và nuôi trồng thuỷ sản đạt 93 triệu đồng.
Thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn nước, tăng nguồn thuỷ sinh, bảo đảm các mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường, tận dụng hiệu quả các hiệp ước, công ước quốc tế về bảo vệ rừng, biến đổi khí hậu để bán tín chỉ Cac bon từ rừng, nâng cao giá trị rừng. Tăng cường thực hiện trồng rừng sản xuất, quy hoạch định hướng phát triển cây quế phù hợp. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 57,36%.
Hoàn thành mục tiêu xây dựng xã Bát Xát đạt chuẩn xã nông thôn mới. Tiếp tục xác định xây dựng nông thôn mới là chương trình tổng thể phát triển kinh tế xã hội, tập trung các giải pháp huy động nguồn vốn đầu tư để xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu, nhất là cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế; tăng cường kết nối doanh nghiệp và thu hút đầu tư vào khu vực nông nghiệp nông thôn tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho nhân dân; huy động mọi nguồn lực xã hội hóa và phát huy sức mạnh nội lực trong Nhân dân để xây dựng nông thôn mới…Phấn đấu đến năm 2030 có 38 thôn hoàn thành tiêu chí thôn nông thôn mới.
Tiếp tục thực hiện tốt các chương trình Mục tiêu Quốc gia trên địa bàn xã. Đảm bảo việc xây dựng kế hoạch thực hiện sát với mục tiêu thực tế tại địa phương. Sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn chương trình Mục tiêu Quốc gia cho phát triển kinh tế xã hội, góp phần nâng cao chất lượng đời sống của nhân dân.
(3) Về phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Xây dựng hoàn thiện Khu công nghiệp Bản Qua, phấn đấu thu hút, hình thành 02 khu công nghiệp, 01 cụm công nghiệp; thu hút đầu tư phát triển các dự án công nghiệp, tập trung phát triển các cơ sở chế biến nông sản thực phẩm, dược liệu; chế biến gỗ và lâm sản ngoài gỗ. Mở rộng quy mô khai thác mỏ đồng Sin Quyền, khai thác các điểm quặng sắt khu vực Bản Vược cung cấp nguyên liệu cho Nhà máy luyện đồng và các nhà máy chế biến khi Khu công nghiệp Bản Qua hình thành. Tỷ lệ lấp đầy các khu, cụm công nghiệp đạt trên 80%. Thu hút lao động trong lĩnh vực công nghiệp trên 20.000 lao động. Duy trì và phát triển các làng nghề truyền thống, các HTX tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn; phát triển làng nghề rèn đúc tại xã Bản Qua. Hỗ trợ các cơ sở chế biến phát triển sản xuất gắn với quy hoạch vùng nguyên liệu. Khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức đầu tư đổi mới công nghệ hiện đại nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để từng bước xây dựng thương hiệu một số nông sản đặc sản của Bát Xát. Chuyển 100% các cơ sở sản xuất trong khu dân cư vào các khu, cụm công nghiệp đảm bảo môi trường. Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt 13.000 tỷ đồng; giá trị tiểu thủ công nghiệp đạt 245 tỷ đồng (giá so sánh 2010);
Xây dựng khu công nghiệp gia công, chế biến, đóng gói hàng xuất khẩu trong khu hợp tác qua biên giới; ưu tiên phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao như gia công sản phẩm nông sản, điện tử, đồ gỗ, kim loại, hoá chất và lĩnh vực công nghệ cao. Tại các khu vực khai trường khai thác khoáng sản, sau khi khai thác hoàn nguyên là các khu vực phát triển công nghiệp sản xuất chế biến, lắp ráp, logistics, đóng gói phục vụ xuất nhập khẩu… và phát triển đô thị.
Phát triển nghề, cơ sở sản xuất, sửa chữa các mặt hàng cơ khí, sản xuất, sửa chữa thiết bị cơ giới hoá trong sản xuất nông nghiệp. Duy trì hoạt động các cơ sở sản xuất gạch, vật liệu xây dựng.
(4) Về phát triển thương mại, dịch vụ, kinh tế cửa khẩu, logictis
Thực hiện các dự án trọng điểm của Tỉnh trên địa bàn: Tập trung phát triển trung tâm logictics đạt tiêu chuẩn hạng II tại khu Kim Thành – Bản Vược; dự án cầu vượt sông Hồng, dự án vận chuyển hàng hoá (container) qua biên giới bằng phương thức tiên tiến tại Bản Vược ; phát triển các cửa hàng tiện ích tại trung tâm xã, các điểm trao đổi hàng hoá tại các xã chưa có quy hoạch xây dựng chợ. Phát triển các loại hình dịch vụ, logitic.
Đẩy mạnh phát triển trung tâm giao thương kinh tế, văn hóa, dịch vụ hậu cần cửa khẩu, kết hợp mở rộng chợ trung tâm xã, chợ Bản Vược, chợ Quang Kim và hệ thống cửa hàng, điểm trao đổi hàng hóa cấp thôn. Thu hút đầu tư xây dựng siêu thị và bến xe loại 3, mở rộng hệ thống bãi đỗ xe tĩnh phục vụ hoạt động thương mại và xuất nhập khẩu.
Phát triển khu trung tâm xã Bát Xát (gồm các thôn Tân Bảo, Bản Qua, Bản Vai, Bản Vền, Tân Hồng, Kim Tiến, An Thành, Km0, Thôn Bát Xát 1, Thôn Bát Xát 2, Thôn Bát Xát 3, Thôn 4 – 11) đạt tiêu chí đô thị của Trung ương, hướng tới đô thị để trở thành phưởng. Xây dựng hành lang đô thị – công nghiệp – thương mại – du lịch dọc tuyến tỉnh lộ 156 (Kim Thành – Ngòi Phát), góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa tại chỗ, kết hợp hài hòa giữa truyền thống nông thôn và hiện đại đô thị, hình thành không gian sống đa dạng, đặc trưng vùng cao biên giới.
(5) Về phát triển các thành phần kinh tế: Doanh nghiệp, hợp tác xã
Đẩy mạnh thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp khởi nghiệp, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Chủ động tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, hợp tác xã; phối hợp đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh. Ưu tiên các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, đặc biệt là trong tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ, thông tin và thị trường. Giảm thiểu các thủ tục rườm rà, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã. Thu hút các doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư vào các lĩnh vực tiềm năng của địa phương, đặc biệt là cửa khẩu, công nghiệp, thương mại, nông nghiệp, du lịch, dịch vụ.
Phấn đấu đến năm 2030, toàn xã có trên 260 doanh nghiệp và Hợp tác xã; trong đó tỷ lệ doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động đạt 65%.
(6) Về hoàn thiện cơ sở hạ tầng thiết yếu kinh tế – xã hội: trọng tâm là hạ tầng giao thông kết nối ngang dọc; hạ tầng kỹ thuật đô thị, nông thôn
Phát triển hạ tầng giao thông kết nối để đẩy mạnh giao thương trên địa bàn. Các tuyến đường tỉnh, hoàn thành sửa chữa các tuyến đường tỉnh đã được đầu tư giai đoạn 2021-2025 (bị hư hỏng do ảnh hưởng bão số 3 năm 2024); Quốc lộ 4E: Sửa chữa, mở rộng mặt đường đến khu vực cửa khẩu Bản Vược chiều dài 8km, mặt đường bê tông nhựa rộng 10,5m, đạt tiêu chuẩn đường cấp IV/MN.
Tiếp tục đầu tư, nâng cấp các tuyến đường trục chính trong xã, gồm 05 tuyến đường hiện có chiều dài 36 km đạt từ cấp B-GTNT, đạt tiêu chuẩn đường cấp IV miền núi, mặt BT nhựa hoặc BTXM; Làm mới đường Bản Trang đi Làng Pẳn dài 3km.
Đầu tư nâng cấp 148,7 km đường giao thông nông thôn trong giai đoạn 2026-2030. Ưu tiên nâng cấp các tuyến đường đến trung tâm các thôn có tiềm năng phát triển du lịch (cộng đồng, sinh thái, văn hóa bản địa), nông nghiệp công nghệ cao, làng nghề truyền thống sản xuất các sản phẩm hàng hoá… Đến năm 2030, nâng cấp, mở rộng đường đến 100% các thôn bản, mặt đường BTXM hoặc rải nhựa đạt cấp A/GTNT.
(7) Đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo chuyển đổi số
Đẩy mạnh triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 57/NQ/TW ngày 22/11/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. 100% cán bộ, công chức, viên chức và trên 80% người dân nông thôn, 100% người dân đô thị, 100% doanh nghiệp, hợp tác xã được tuyên truyền, đào tạo về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. 100% trường học thực hiện hiệu quả ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng giáo dục; 100% học sinh được cá thể hóa giáo dục trên môi trường số (ứng dụng hồ sơ số, học bạ số).
Hoàn thành xây dựng đô thị thông minh tại trung tâm xã Bát Xát, khu hợp tác kinh tế qua biên giới. 100% doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, kinh doanh và quản trị.
Phổ cập “bình dân học vụ số” đến toàn bộ nhân dân trên địa bàn xã. Tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến của người dân và doanh nghiệp đạt trên 80%; giao dịch không dùng tiền mặt trong các hoạt động kinh tế – xã hội đạt tỷ lệ 80%. Đảm bảo 100% người dân có khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ công trực tuyến toàn trình. Tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở các lĩnh vực: nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp xanh, văn hóa, y tế, giáo dục thương mại.
(8) Quản lý, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó thiên tai, thích ứng biến đổi khí hậu.
Tăng cường công tác thanh, kiểm tra doanh nghiệp khai thác khoáng sản để bảo đảm phải có giải pháp cải tạo, gia cố các bãi thải, hồ thải quặng đuôi, nhằm giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm môi trường. Bổ sung hệ thống cảnh báo, biển cảnh báo khu vực nguy hiểm, cắm mốc giới phạm vi đập, hồ chứa, bãi thải, kiểm tra, theo dõi cao trình mực nước dâng và cao trình xả thải của hồ tuần hoàn, đặc biệt, trong mùa mưa lũ hoàn thiện hồ sơ phương án phòng chống lụt bão, đảm bảo an toàn đập. Đầu tư, nâng cấp, sửa chữa các công trình cấp nước tại các thôn đảm bảo cấp nước theo tiêu chuẩn.
Triển khai thực hiện tốt và có hiệu quả phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn trên địa bàn xã Bát Xát; hoàn thành hệ thống thu gom nước thải sinh hoạt tại khu vực trung tâm xã; xây dựng các điểm đổ chất thải rắn tập trung. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống xử lý chất thải y tế nguy hại tại các bệnh viện và các trạm y tế trên địa bàn xã.
Xử lý chất thải gắn với sản xuất và sinh hoạt của người dân ở nông thôn: Nâng cấp, sửa chữa các bãi xử lý chất thải rắn sinh hoạt hoặc đào hố chôn lấp rác thải sinh hoạt hợp vệ sinh tại các trung tâm thôn bản hoặc cộng đồng dân cư sống tập trung. Xây dựng chương trình nông thôn mới gắn với tiêu chí bảo vệ môi trường (sử dụng nước sạch đảm bảo quy chuẩn, chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh, xây dựng bãi hoặc hố chôn lấp rác thải sinh hoạt, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đúng cách,…).
Xây dựng các khu giết mổ gia súc, gia cầm tập trung cho khu vực trung tâm nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và kiểm soát được dịch bệnh; Xây dựng, nâng cấp các khu nghĩa trang hợp vệ sinh và cảnh quan môi trường.
Thường xuyên đánh giá rủi ro, thiên tai, lũ, sạt lở đất, tác động tiêu cực tới môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội để có giải pháp xử lý kịp thời. Tuyên truyền nâng cao nhận thức về ứng phó với biến đổi khí hậu của các cấp, ngành và cộng đồng dân cư. Đầu tư thiết bị hạ tầng đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa để cảnh báo cháy rừng, lũ quét, sạt lở đất đá,… đảm bảo an toàn cho nhân dân và bảo vệ môi trường sinh thái.
Đa dạng các hình thức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường, đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu cho các lãnh đạo làm công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu cấp xã đến thôn, các doanh nghiệp và nhân dân trên địa bàn xã.
(9) Quốc phòng, an ninh, đối ngoại
Tăng cường vai trò lãnh đạo chỉ đạo của Đảng bộ với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tập trung xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và xây dựng làng, xã chiến đấu trong khu vực phòng thủ tỉnh ngày càng vững chắc. Thực hiện tốt công tác quản lý biên giới. Xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ, dự bị động viên đủ số lượng, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và sức chiến đấu. Thực hiện tốt công tác tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, đạt 100% chỉ tiêu, đảm bảo chất lượng và công tác giáo dục quốc phòng, an ninh, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh. Tổ chức thực hiện hiệu quả các cuộc luyện tập, diễn tập khu vực phòng thủ, phòng chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn theo kế hoạch.
Củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động của Công an xã và lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, góp phần giữ vững an ninh, trật tự trên địa bàn. Xác định rõ trách nhiệm người đứng đầu trong nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Phát huy vai trò nòng cốt, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị tham gia công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm. Kiềm chế, kéo giảm tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật trên địa bàn. Thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự; đảm bảo trật tự an toàn giao thông; an toàn về phòng cháy, chữa cháy, thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ… Chủ động trong công tác nắm, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình liên quan đến hoạt động tôn giáo, dân tộc trên địa bàn.
Triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới. Tiếp tục thực hiện tốt đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị hợp tác và phát triển của Trung ương; duy trì và phát huy hiệu quả các mối quan hệ với các tổ chức trong và ngoài nước, đặc biệt là quan hệ với các địa phương phía Trung Quốc; mở rộng xây dựng các quan hệ hữu nghị, hợp tác với các địa phương trong và ngoài tỉnh… Phát huy thế mạnh của địa bàn nhất là dịch vụ logistics, dịch vụ du lịch… để xây dựng Bát Xát thành địa bàn quan trọng về đối ngoại, kinh tế, quốc phòng của Tỉnh.
(10) Phát triển văn hóa và con người Bát Xát đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển.
Thực hiện có hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, gắn với xây dựng nông thôn mới nâng cao. Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, nhất là các lễ hội, trang phục, ngôn ngữ, ẩm thực của đồng bào dân tộc thiểu số. Tổ chức định kỳ các hoạt động văn nghệ quần chúng, ngày hội văn hóa dân tộc gắn với du lịch cộng đồng, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương. Phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng, xây dựng thói quen rèn luyện sức khỏe trong Nhân dân. Đầu tư nâng cấp thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở. Đến năm 2030, 100% thôn, tổ dân phố có nhà văn hóa đạt chuẩn, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng.
Tăng cường hoạt động thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức Nhân dân. Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong truyền thông, khai thác hiệu quả hệ thống loa truyền thanh cơ sở và nền tảng số. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về văn hóa, thông tin, phòng ngừa, đấu tranh với các sản phẩm độc hại trên môi trường mạng, xây dựng không gian văn hóa lành mạnh.
Triển khai các giải pháp nâng cao chỉ số hạnh phúc của người dân, chú trọng cải thiện môi trường sống, hướng tới “gia đình hạnh phúc”, “thôn hạnh phúc”, “xã hạnh phúc”.






BÌNH LUẬN (0)
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên bình luận!